Trang nhất Đào tạo Chỉ thị 20 về trả lương qua tài khoản đã thực sự đi vào cuộc sống


Chỉ thị 20 về trả lương qua tài khoản đã thực sự đi vào cuộc sống

Ngày 24/08/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Chỉ thị 20) để đưa chính sách trả lương qua tài khoản đối với nhóm cán bộ công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước (NSNN) trở thành hiện thực trong cuộc sống kinh tế - xã hội Việt Nam kể từ ngày 01/01/2008. Tuy là một mệnh lệnh hành chính, nhưng Chỉ thị 20 là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, được ban hành vào thời điểm thích hợp và được đưa vào triển khai thực hiện theo 1 lộ trình hợp lý khi điều kiện thực tế khả thi nên đã nhận được sự đồng thuận hưởng ứng của nhóm đối tượng hưởng lương NSNN cũng như dư luận xã hội nói chung và đã được đồng loạt triển khai thực hiện tại tất cả các Bộ ngành, cơ quan trung ương và tại Ủy ban Nhân dân 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Sau 3 năm triển khai thực hiện, cho đến nay hầu hết các Bộ, ngành đã triển khai thực hiện Chỉ thị 20 đạt gần 100% cán bộ công chức tại trụ sở chính và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc; Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố cũng đã triển khai đạt gần 89% số cán bộ công chức làm việc tại trụ sở cơ quan đóng ở các thành phố và các thị xã.

Trong năm 2010, việc mở rộng diện trả lương qua tài khoản theo Chỉ thị 20 không còn thuận lợi và đạt tốc độ phát triển nhanh như 2 năm 2008 và 2009 vì: Số đơn vị còn lại chưa triển khai nằm chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa (khu vực này mới chỉ thực hiện được 38,8%), trong khi ở các khu vực này việc đầu tư cơ sở hạ tầng của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCƯDVTT) rất khó thực hiện vì năng lực cung ứng dịch vụ còn rất hạn chế của các ngành điện, viễn thông, các điều kiện sống của người sử dụng dịch vụ. Tính đến thời điểm tháng 12/2010, số đơn vị hưởng lương từ NSNN trên toàn quốc là 81.690 đơn vị (tăng 3.617 đơn vị so với cuối năm 2009), trong đó số đơn vị hưởng lương từ NSNN tại các thành phố, thị xã chỉ chiếm khoảng 30% còn lại khoảng 70% số đơn vị là ở tại các huyện, xã ở vùng nông thôn mà thực tế đến nay ở đa số các huyện mới chỉ được lắp đặt bình quân từ 1- 10 máy và được lắp đặt chủ yếu tại thị trấn huyện là nơi tập trung đông dân cư và có điều kiện thuận lợi. Theo thống kê sơ bộ trên toàn quốc vẫn còn 103 huyện trên tổng số 554 huyện chưa có máy ATM, nhiều nhất tại các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Ngãi. Như vậy, việc triển khai Chỉ thị 20 tại các vùng nông thôn phải tiến hành dần từng bước vì còn phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế xã hội, trình độ và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, công nghệ thanh toán qua ngân hàng trên địa bàn nên thực tế việc triển khai thực hiện Chỉ thị 20 cho đến nay trên toàn quốc ước đạt trên 54% tổng số các đơn vị hưởng lương từ NSNN đã có thể được ghi nhận là một kết quả cố gắng nỗ lực rất lớn trong thời gian qua của ngành Ngân hàng và các đơn vị liên quan.

Dưới sự chỉ đạo sát sao của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN), các TCCUDVTT đã tích cực nắm bắt cơ hội phát hành thẻ cho đối tượng hưởng lương từ NSNN, nên đã đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng của công nghệ thẻ, nhờ đó số lượng ATM và POS trong 3 năm qua phát triển với tốc độ cao: cuối năm 2007 mới chỉ có 4.855 máy ATM và 18.471 máy POS, đến cuối năm 2010 đã lên tới 11.294 máy ATM và 49.639 máy POS (số ATM tăng hơn 2,3 lần, số POS tăng hơn 2,7 lần). Điển hình một số huyện đã được lắp đặt nhiều máy ATM như: Huyện Thuận An - Bình Dương (108 máy), huyện Từ Liêm - Hà Nội (92 máy), huyện Dĩ An - Bình Dương (84 máy), huyện Bến Cát - Bình Dương (64 máy). Thị trường thẻ Việt Nam đã trải nghiệm bước phát triển đột phá mạnh trong 3 năm qua: năm 2007 thị trường thẻ có 9,1 triệu thẻ, đến cuối năm 2010 con số này lên tới 29,75 triệu thẻ (tăng hơn 3,3 lần). Đây là một nỗ lực đầu tư đáng kể của các TCCƯDVTT trong bối cảnh khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu và nền kinh tế Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn. Việc kết nối thành công mạng ATM của các ngân hàng thành viên 2 công ty chuyển mạch Smartlink và Banknetvn từ ngày 23/5/2008 và sự kết nối liên thông hệ thống thanh toán thẻ nội địa (thẻ ATM) qua mạng POS (bắt đầu vào ngày 28/9/2010 tại Hà Nội và ngày 09/12/2010 tại TP Hồ Chí Minh) cho tổng cộng 15 ngân hàng thương mại và 3 công ty Banknetvn, Smartlink và V.N.B.C đã khẳng định nỗ lực của toàn ngành Ngân hàng trong việc phát triển cả về chiều sâu cơ sở hạ tầng theo hướng gia tăng cung ứng tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt cho các chủ thẻ (trong đó có các khách hàng nhận lương qua tài khoản) đồng thời nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư mở rộng mạng lưới POS và giảm tải cho hệ thống ATM của từng ngân hàng.

Có thể nói, Chỉ thị 20 đã thực sự đi vào cuộc sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong 3 năm qua với những tác động chính sách tích cực như sau:

- Về mặt xã hội: ý nghĩa đạt được lớn nhất của Chỉ thị 20 là đã và đang thay đổi dần nhận thức và thói quen tâm lý sử dụng tiền mặt trong dân chúng theo hướng tiếp cận và sử dụng tài khoản ngân hàng để giao dịch thanh toán; trên cơ sở đó giúp gia tăng tính minh bạch trong hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời hỗ trợ tăng cường ổn định trật tự an ninh xã hội, tiết kiệm một phần chi phí đầu tư xã hội trong giao dịch, vận chuyển và quản lý tiền mặt...

- Đối với việc thực hiện chính sách của Nhà nước (như Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Quản lý thuế…): việc thực hiện trả lương qua tài khoản đã góp phần minh bạch hóa một phần thu nhập của cán bộ công chức là tiền đề để triển khai dần việc thực hiện các khoản chi khác của đối tượng hưởng lương từ NSNN qua tài khoản trong thời gian tới; qua đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan quản lý thuế tăng dần việc quản lý nguồn thu thuế từ cá nhân, tổ chức.

- Đối với đơn vị hưởng lương Ngân sách Nhà nước: giúp tiết kiệm được chi phí, thời gian, nhân lực trong quản lý ngân quỹ (tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc giao nhận, kiểm đếm, phân chia tiền mặt để trả lương định kỳ cho cán bộ công chức tại các đơn vị này) và giúp cho việc chi trả lương nói chung một cách an toàn và hiệu quả.

- Đối với người nhận lương qua tài khoản: đem lại các tiện lợi và lợi ích của việc sử dụng tài khoản cá nhân và thẻ thanh toán về các khía cạnh tiết kiệm thời gian, công sức và đặc biệt là đảm bảo an toàn cá nhân; đồng thời giúp thay đổi dần nhận thức và thói quen sử dụng tiền mặt bằng văn hóa giao dịch qua ngân hàng hoặc thanh toán tự động điện tử trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại.

- Đối với hệ thống Kho bạc Nhà nước: thúc đẩy hệ thống kho bạc hiện đại hóa công nghệ thanh toán, giảm bớt chi phí vận chuyển, kiểm đếm, cất giữ tiền mặt: việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ NSNN đã giảm thiểu gánh nặng chi tiền mặt cho KBNN, từ đó giảm bớt được khối lượng đáng kể công việc, thời gian, nhân lực và chi phí quản lý tiền mặt cho KBNN trong các khâu vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản tiền mặt... Tỷ lệ chi tiền mặt trong NSNN ngày càng có xu hưởng giảm, góp phần tăng tỷ trọng thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng, cụ thể như chi thanh toán cho cá nhân bằng tiền mặt trong năm 2008 chiếm 55% tổng số chi thanh toán cho cá nhân, trong năm 2009 tỷ lệ này giảm xuống còn 42%, năm 2010 tiếp tục giảm ước còn 35-40%.

Việc triển khai thực hiện Chỉ thị 20 đã tạo thói quen cho cán bộ, công chức sử dụng tài khoản cá nhân, qua tài khoản này giúp Nhà nước tăng cường năng lực quản lý của mình, hướng tới mục tiêu quản lý tất cả các khoản chi từ NSNN cho cán bộ công chức qua tài khoản, thực hiện thu thuế thu nhập cá nhân trong tương lai được thuận lợi.

- Đối với ngân hàng cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản: Chỉ thị 20 đã tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng tiếp cận khách hàng, gia tăng thị phần khách hàng; gia tăng số lượng thẻ phát hành nhằm đẩy mạnh phát triển các dịch vụ thanh toán thẻ; phát triển mở rộng sản phẩm dịch vụ giúp tăng doanh thu, phân tán rủi ro kinh doanh; tạo thêm cơ hội sử dụng vốn nhàn rỗi tăng cường đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Từ đó việc triển khai thực hiện Chỉ thị 20 cũng góp phần đáng kể thúc đẩy phát triển thương mại điện tử, thanh toán điện tử  và giúp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với các dịch vụ cung ứng điện, nước, điện thoại, viễn thông, truyền hình... góp phần từng bước nâng cao chất lượng đời sống người dân.

Ts. Dương Hồng Phương

(2536 lượt đọc)